Google

18/04/2017

Tế bào gốc mô mỡ tự thân - Giải pháp phục hồi sụn khớp

SKĐS - Thoái hóa khớp gối là một bệnh thường gặp từ lứa tuổi trung niên trở đi và gần đây xuất hiện ở cả người trẻ.
Thoái hóa khớp gối là một bệnh thường gặp từ lứa tuổi trung niên trở đi và gần đây xuất hiện ở cả người trẻ. Ở người trên 35 tuổi, 52% có biểu hiện ít nhất một triệu chứng của thoái hóa khớp như đau khớp, hạn chế cử động khớp gối và lên tới 80% ở người trên 70 tuổi.
Thoái hóa khớp gối - Nỗi lo của chất lượng sống
Về cơ bản, thoái hóa khớp là tổn thương thoái hóa chủ yếu của sụn khớp, do quá trình sinh tổng hợp chất cơ bản (proteoglycan) bởi các tế bào sụn có sự bất thường. Đặc trưng của bệnh là quá trình mất sụn khớp của tế bào dưới sụn và tổ chức xương cạnh khớp tân tạo, phối hợp với tổn thương của các sợi liên kết, các cơ quanh khớp, bao khớp và màng hoạt dịch. Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hoá khớp vẫn chưa được khẳng định, đó có thể là hậu quả của quá trình chuyển hóa sụn trong đó hoạt động thoái hoá vượt trội hơn hoạt động tổng hợp. Các yếu tố tham gia vào quá trình này là tuổi già, béo phì, di truyền, do chấn thương, thể thao, nghề nghiệp và thay đổi nội tiết ở phụ nữ.
Sử dụng tế bào gốc mô mỡ tự thân trong điều trị thoái hóa khớp gối.
Sử dụng tế bào gốc mô mỡ tự thân trong điều trị thoái hóa khớp gối.
Bệnh thoái hóa khớp gối ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Người bệnh bị thoái hóa khớp gối phải chịu đựng những cơn đau nhức dai dẳng đặc biệt khi thời tiết chuyển mùa, ảnh hưởng nhiều tới chế độ sinh hoạt hàng ngày như đi bộ, leo cầu thang… Tình trạng sưng khớp do thoái hóa khớp dẫn tới khó khăn trong vận động, co duỗi khớp có khi cứng khớp không thể đi lại được, đặc biệt là vào thời gian buổi sáng lúc mới ngủ dậy, nhiều bệnh nhân phải mất một khoảng thời gian nhất định để làm ấm khớp, giúp cho việc cử động được dễ dàng hơn. Sau một thời gian bị thoái hóa khớp, sụn khớp bị hư hại, bào mòn dần sẽ dẫn đến mất sụn, các đầu xương cọ vào nhau gây đau đớn cho người bệnh. Cấu trúc khớp sẽ bị biến đổi dẫn tới mất chức năng vận động, tàn phế. Ít ai biết rằng thoái hóa khớp là nguyên nhân gây tàn phế lớn thứ 4 của con người.
Chính vì mức độ ảnh hưởng tới cuộc sống và tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng, với dân số gần 90 triệu người và số người cao tuổi đang dần tăng lên, có thể thấy nhu cầu cần điều trị của bệnh thoái hóa khớp gối ở Việt Nam là rất lớn và cấp thiết.
Các phương pháp điều trị thoái hóa khớp gối
Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp gối chủ yếu làm giảm triệu chứng bao gồm chỉ định nội khoa với các loại thuốc giảm đau chống viêm, tiêm chất nhờn ổ khớp… kết hợp với các phương pháp như giáo dục bệnh nhân về phòng ngừa, chống các tư thế xấu, các yếu tố nguy cơ nặng bệnh, vật lý trị liệu hầu hết đều nhằm mục đích giảm đau cho bệnh nhân và duy trì chức năng vận động khớp gối chứ chưa giải quyết được tận gốc bản chất của bệnh là tổn thương mất sụn khớp.
Biện pháp điều trị ngoại khoa thoái hoá khớp gối như đục xương chỉnh trục, nội soi rửa - bao khớp, thay một phần hoặc toàn bộ khớp gối chỉ định cho các trường hợp hạn chế chức năng nhiều, kháng lại với các phương thức điều trị nội khoa và thường là ở giai đoạn muộn của thoái hóa khớp đặc biệt là phương pháp thay khớp gối nhân tạo, tuy nhiên cũng e ngại đến những biến chứng của khớp giả (nhiễm trùng, tổn hại thần kinh) và khớp giả chỉ có thể được sử dụng dao động trong khoảng 10 - 15 năm.
Rõ ràng có một nhu cầu cấp thiết cần một kỹ thuật điều trị mới thực sự tác động tới sự phục hồi sụn khớp, phối hợp tốt với các phương pháp hiện tại, cải thiện các biến chứng cũng như các mặt hạn chế của chúng. Sử dụng tế bào gốc mô mỡ tự thân để điều trị thoái khớp là phương pháp điều trị bảo tồn, đáp ứng được nhu cầu bức thiết đó.
Liệu pháp tế bào gốc mô mỡ tự thân – Định hướng của tương lai
(H.tham khảo trên internet)
Với liệu pháp sử dụng tế bào gốc tự thân, tế bào gốc của chính bệnh nhân được phân tách từ mô mỡ, sau đó được kích hoạt và tiêm vào ổ khớp. Dưới sự kích thích của các tác nhân tại chỗ tế bào gốc sẽ phát huy các tác dụng khác nhau bao gồm việc biệt hóa thành tế bào sụn; chống viêm; kích thích mô tại chỗ phát triển thông qua việc tiết ra các yếu tố tăng trưởng... Như vậy, phương pháp này có các ưu điểm vượt trội so với các phương pháp khác ở chỗ nó giải quyết được tận gốc tổn thương sụn khớp vốn là nguyên nhân gây thoái hóa khớp. Kỹ thuật này bổ sung một mắt xích quan trọng cho chuỗi liệu pháp hiện tại, đạt hiệu quả cao và an toàn, góp phần cải thiện chất lượng sống và tuổi thọ.
Qua nghiên cứu tài liệu, kết quả các công trình nghiên cứu sản xuất và ứng dụng tế bào gốc trên thế giới, đồng thời để đáp ứng tình hình thực tế ở nước ta về xu hướng, nhu cầu phát triển ứng dụng các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh, dựa trên các căn cứ về con người, năng lực, cơ sở vật chất, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 95/QĐ-BYT cho phép Bệnh viện Bạch Mai được triển khai kỹ thuật điều trị thoái hóa khớp gối bằng tế bào gốc mô mỡ tự thân từ năm 2012.
Kỹ thuật phân tách tế bào gốc mô mỡ tự thân ứng dụng cho điều trị thoái hóa khớp gối được Bệnh viện Bạch Mai sử dụng những công nghệ tiên tiến với nhiều ưu điểm đã và đang được nghiên cứu và thực hiện tại nhiều nước trên thế giới nhằm đảm bảo tính hiệu quả của kỹ thuật điều trị nhờ khai thác được nhiều tế bào, thủ thuật tiến hành đơn giản, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và thời gian điều trị ngắn. Với sự hỗ trợ nhiệt tình của đội ngũ nhân viên y tá, bác sĩ của Bệnh viện Bạch Mai, các bệnh nhân sau khi được điều trị bằng kỹ thuật tế bào gốc mô mỡ tự thân sẽ không còn phải chịu đựng các cơn đau tái diễn nhiều lần trong khoảng thời gian dài, cải thiện chức năng vận động và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo một nghiên cứu về phân loại bệnh, thoái hóa khớp gối chiếm 10,41% số bệnh nhân nhập viện tại Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai, bệnh thường gặp ở các khớp chịu lực, trong đó ở Việt Nam hay gặp nhất là thoái hóa khớp gối, đặc biệt ở bệnh nhân nữ. Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai mỗi tháng điều trị nội trú khoảng 30-50 lượt bệnh nhân thoái hóa khớp gối, số bệnh nhân ngoại trú rất lớn, gấp 2-3 lần bệnh nhân nội trú, tổng cộng khoảng 100-200 lượt bệnh nhân mỗi tháng.

TS. Nguyễn Mai Hồng (BV Bạch Mai) (Theo suckhoedoisong.vn)

14/03/2017

Kỹ thuật thay đổi cuộc sống người bệnh

GD&TĐ - Thoái hóa khớp, viêm khớp… là bệnh phổ biến ở người cao tuổi. Những ai mắc bệnh này mới thấu hiểu được nỗi khổ của việc có chân mà không thể đi lại hoặc nhẹ hơn là mỗi lần di chuyển như một lần tra tấn. 
Trước kia, bệnh nhân mắc bệnh này chấp nhận “sống chung với lũ” còn hiện nay khoa học phát triển mở ra nhiều cơ hội, giúp người tưởng gắn phần đời còn lại với chiếc giường có thể đi lại dễ dàng.
Kết quả bất ngờ
Bệnh nhân đau khớp từng qua phẫu thuật nay bệnh tái phát trở lại dường như cầm chắc việc làm bạn với chiếc xe lăn, chiếc giường cùng những cơn đau hành hạ suốt đời. Tuy nhiên, một người từng sống trong đau đớn nay đứng lên đi lại khiến bản thân bệnh nhân, người nhà và cả bác sĩ phải ngỡ ngàng.
Đó là trường hợp bà L.T.M (50 tuổi, Hà Nội). Bà làm bạn với căn bệnh đau khớp đã lâu. Bà từng phẫu thuật thay khớp gối bán phần nhưng theo bà thì việc đi lại sau đó không thực sự thoải mái, đặc biệt là công cuộc phục hồi chức năng sau mổ là quãng thời gian bà không muốn nhớ tới.
Cứ ngỡ, mọi đau đớn trải qua sẽ được đền bù nhưng không lâu sau, căn bệnh tái phát trở lại. Nhập viện lần này, bà xác định tinh thần không thể chữa trị nhưng không ngờ, kỹ thuật phẫu thuật bằng robot tại Bệnh viện Bạch Mai đem lại điều kỳ diệu mà bà không bao giờ nghĩ tới.
Theo bà L.T.M, 2 giờ sau khi phẫu thuật, bà đã xuống giường và 2 ngày sau có thể đi lại mà không có cảm giác khó chịu ở gối.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Tuyến (Thạch Thất, Hà Nội) mắc bệnh nhiều năm, từng chữa nhiều nơi nhưng chỉ giảm đau chứ không khỏi hẳn.
Những ngày gần đây, cơn đau hành hạ khiến bà phải ngồi một chỗ cũng không yên. Mong muốn khỏi bệnh để đi lại bình thường, gia đình đưa bà vào Bệnh viện Xanh Pôn.
Kết quả xét nghiệm X quang cho thấy cả 2 khớp gối đều thoái hóa, các biện pháp chữa giảm đau cũng như bảo tồn không hiệu quả. Thay khớp gối là biện pháp cuối cùng được bác sĩ tính đến.
Theo bác sĩ Trần Trung Dũng - Phó Giám đốc Bệnh viện Xanh Pôn: Bệnh nhân được thay từng khớp một. Kết quả cho thấy bệnh nhân đáp ứng tốt với khớp mới nên thay vì ngồi xe lăn, bệnh nhân có thể đi lại, không bị cơn đau hành hạ.
Chia sẻ với mọi người, bà Tuyến cho biết như vừa trút được gánh nặng trăm cân ở đầu gối. Một trường hợp khác là cậu bé 5 tuổi ở Hà Nội nhập viện trong tình trạng đau đầu, quấy khóc, được chẩn đoán bị giãn não thất.
Thay vì chờ xếp lịch mổ, bệnh nhi được hệ thống phẫu thuật bằng robot của Bệnh viện Bạch Mai can thiệp. Sau 2 giờ phẫu thuật, sức khỏe của bệnh nhi hồi phục tốt…
Kỹ thuật mới
Phẫu thuật bằng robot được nhiều nước áp dụng nhưng ở nước ta còn hạn chế. Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Anh - Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, hệ thống phẫu thuật robot Mako và Rosa lần đầu tiên được ứng dụng ở nước ta để thực hiện ca phẫu thuật phức tạp, đặc biệt là can thiệp ngoại khoa đòi hỏi sự chính xác đến từng mm.
Trưởng khoa Phẫu thuật thần kinh (Bệnh viện Bạch Mai) Nguyễn Thế Hào khẳng định: Các phẫu thuật viên robot có khả năng định vị chính xác được tổn thương, đặc biệt ở các vị trí khó, nhỏ mà bác sĩ không nhìn thấy được.
Robot cũng thực hiện can thiệp một cách tinh tế nhất, giúp “hàn gắn” các vết thương mà không làm tổn hại đến các khu vực xung quanh, mất máu ít và giảm tối đa đau đớn cho bệnh nhân.
Nhờ đó, sử dụng robot có thể phẫu thuật não được cho các bệnh nhân nhỏ 2 - 3 tuổi, nhẹ cân. Đây là điều mà các bác sĩ phẫu thuật ít dám mạo hiểm.
Thay khớp gối là kỹ thuật khó, đòi hỏi trình độ bác sĩ cũng như nhiều yêu cầu với bệnh nhân. Nhưng nay, kỹ thuật này được áp dụng ở nhiều nơi nhờ sự sáng tạo của ê kíp.
Bệnh viện Xanh Pôn từng phẫu thuật thay khớp gối thành công cho bệnh nhân trên 100 tuổi. Gần đây, bệnh nhân 50 tuổi từng thay khớp háng và nay lại bị hoại tử vô mạch lồi cầu đùi có chỉ định thay khớp gối.
Hoại tử vô mạch vùng khớp gối là tình trạng tiêu xương dưới sụn, có thể dẫn đến thoái hóa nặng gây tàn phế nếu không điều trị sớm. Đây là bệnh lý hiếm gặp ở bệnh nhân tuổi 50 (3,4%) nhưng ê kíp phẫu thuật Bệnh viện Xanh Pôn tự tin phẫu thuật cho bệnh nhân. Kết quả, bệnh nhân đã đi lại được, hết đau. (Theo giaoducthoidai.vn)

06/02/2017

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG

I. ĐẠI CƯƠNG
Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo là một phương pháp điều trị những bệnh lý khớp háng mà tất cả các phương pháp điều trị khác không đem lại hiệu quả. Thông thường thay khớp háng nhân tạo sẽ giúp giảm đau cho bệnh nhân, cải thiện tầm vận động khớp háng giúp bệnh nhân trở lại các sinh hoạt hàng ngày.
– Có nhiều loại bệnh lý làm tổn thương sụn khớp của chỏm xương đùi và ổ cối như bệnh hoại tử chỏm xương đùi, thoái hóa khớp háng, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp…
– Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo chỉ định trong các trường hợp sau:
+ Nếu người bệnh điều trị bảo tồn không có kết quả, bệnh nhân đau kéo dài
+ Gãy cổ xương đùi ở người già.
+ Không liền xương sau gãy cổ xương đùi, gãy khối mấu chuyển xương đùi.
+ U xương, lao xương…
-Thay khớp nhân tạo thường được chỉ định cho bệnh nhân trên 50 tuổi do tuổi thọ của khớp trung bình được 15  đến 20 năm. Tuy nhiên ngày nay do sự phát triển không ngừng của công nghệ chế tạo, chỉ định thay khớp háng ngày càng được mở rộng, ngưỡng tuổi ngày càng được hạ thấp.
– Có nhiều loại khớp háng nhân tạo ra đời và cũng có nhiều phương pháp mổ khác nhau. Nhìn chung khớp nhân tạo có thể phân thành các loại cơ bản là khớp háng có xi măng và khớp háng không xi măng. Có bệnh nhân khớp háng bán phần (chỉ thay chỏm xương đùi) và có bệnh nhân được thay khớp háng toàn phần (thay cả chỏm xương đùi và ổ cối) tùy theo mức độ bệnh và lứa tuổi.
– Khớp háng không có xi măng được phát triển thành nhiều loại nhỏ tùy thuộc vào bề mặt tiếp xúc và chịu lực của nó là: Kim loại – nhựa cao phân tử, gốm – gốm, kim loại – kim loại, khớp có cán vặn Spiron (dùng cho người trẻ tuổi)
Sau phẫu thuật người bệnh cần được hướng dẫn tập luyện càng sớm càng tốt, giúp phục hồi nhanh và giảm biến chứng.
II. CHẨN ĐOÁN
1. Các công việc của chẩn đoán
1.1. Hỏi bệnh
Bệnh nhân được phẫu thuật ngày thứ mấy ?
1.2. Khám và lượng giá chức năng
– Vận động khớp háng bên chân phẫu thuật có xoay được trong ổ cối hay không.
– Chân phẫu thuật có bị đổ ngoài hay vào trong không.
– Mức độ đau, phù nề, dịch dẫn lưu sau phẫu thuật…
1.3. Chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng:
Chụp XQ thường quy.
2. Chẩn đoán xác định
Thay khớp háng bán phần hay toàn phần.
III. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc phục hồi chức năng và điều trị
– Giảm đau, giảm phù nề.
– Gia tăng sức mạnh các nhóm cơ
– Tăng tầm vận động khớp háng
– Bảo vệ khớp háng mới
– Lấy lại hoạt động bình thường cho bệnh nhân
2. Các phương pháp và kỹ thuật phục hồi chức năng:
2.1. Ngày thứ 1 và 2 sau phẫu thuật
– Tập các bài tập vận động ở trên giường, thay đổi tư thế
– Khớp cổ chân: tập gấp duỗi và xoay khớp cổ chân, tập vài lần trong ngày, mỗi lần 5-10 phút. Bài tập được tiến hành bắt đầu sau khi phẫu thuật cho đến khi khỏi bệnh.
– Khớp gối: Bệnh nhân nằm ở tư thế 2 chân duỗi thẳng, mũi chân thẳng lên trần nhà, tập gấp duỗi gối bằng cách nâng khớp gối lên thụ động hoặc chủ động 20 động tác mỗi lần. Ngày khoảng 2 lần. Chú ý: không xoay khớp gối.
– Co cơ mông: bệnh nhân nằm ngửa, co cơ mông trong 5 giây sau đó nghỉ
5 giây, tập mỗi lần 10 động tác và ngày tập 5 lần.
– Tập khớp háng: tập khép và dạng khớp háng. Bệnh nhân nằm ngửa 2 chân duỗi thẳng, dạng khớp háng cả 2 chân (cả khép). Chú ý không xoay khớp háng vào trong và luôn để ở tư thế hơi xoay ngoài.
– Tập co cơ tĩnh: bệnh nhân nằm với gối thẳng, co cơ tĩnh cả 2 chân, mỗi lần co 5 giây rồi nghỉ 5 giây nâng, tập 10 động tác trong 1 lần và 10 lần/ngày. Nằm nâng chân lên khỏi mặt giường giữ trong 5-10 giây.
– Tập mạnh sức cơ tứ đầu đùi: bệnh nhân nằm thẳng đặt 1 gối dưới kheo chân, giữ cho khớp gối gấp khoảng 30o-40o. Giữ chặt đùi và đưa cẳng chân lên trên giữ trong khoảng 5 giây rồi từ từ đưa về vị trí cũ. Mỗi lần làm 10 động tác và 3-4 lần/ngày.
2.2. Từ ngày thứ 3-5 sau phẫu thuật
– Cho bệnh nhân ngồi dậy ở trên giường, tiếp tục tập các bài tập vận động ở trên giường: khớp gối, khớp háng.
– Đưa 2 chân ra khỏi thành giường, tập đung đưa 2 chân và tập tăng sức mạnh của cơ đùi. Bệnh nhân có thể tự di chuyển nhẹ nhàng ở trên giường.
2.3. Từ ngày 5 đến 4 tuần sau phẫu thuật
– Bệnh nhân tiếp tục các bài tập vận động khớp và tăng sức mạnh của cơ.
– Giai đoạn này có thể tập đứng và đi với nạng hoặc khung.
– Những lần đầu bệnh nhân có thể có người giữ sau đó tự đứng.
– Bệnh nhân đứng chịu trọng lực trên chân lành, 2 tay bám vào thành ghế. Nâng gối của chân kia lên giữ trong 2-3 giây sau đó đặt chân xuống. Động tác nữa là đứng chịu trọng lực trên chân lành giữ gối và háng bệnh trên 1 mặt phẳng rồi tập khép và dạng khớp háng bằng cách đưa chân vào trong và ra ngoài.
– Động tác tập gấp và duỗi khớp háng: đưa chân phẫu thuật ra trước và ra sau. Chú ý là không được gấp khớp háng trên 90 độ
– Tập đi bộ, tập lên xuống cầu thang
– Tập mạnh sức cơ tư thế đứng bằng cách kéo chân bằng dây chun.
2.4. Từ 4-6 tuần sau phẫu thuật
-Bệnh nhân đi bộ với nạng hoặc gậy, lần đầu đi khoảng 5-10 phút trong 1 lần và đi 3-4 lần/ngày. Những lần sau có thể đi 20-30 phút và 2-3 lần/ngày.
-Tập đạp xe đạp tại chỗ và tập tham gia các hoạt động hàng ngày: rửa bát, giặt giũ.
2.5. Từ 6-12 tuần sau phẫu thuật
– Bệnh nhân có thể tập đi bằng cách bỏ nạng
– Tập lái xe
2.6. Sau 12 tuần
– Bệnh nhân có thể trở lại công việc, lái xe, chạy, đánh golf..
* Những điều nên làm và không nên làm
– Không gấp khớp háng quá 90o và không xoay khớp háng vào trong.
– Không được ngồi xổm
– Không được ngồi trên ghế mà không có tay vịn
– Muốn đứng dậy từ ghế: đưa chân phẫu thuật ra trước sau đó từ từ đứng dậy
– Không được ngồi ghế hoặc toilet thấp.
– Không được xoay khớp gối khi đứng, ngồi, khi nằm và phải kê gối giữa 2 chân.
* Một số lưu ý khi thay khớp háng Spiron :
Khớp háng Spiron là loại khớp háng đặc biệt được dùng cho bệnh nhân trẻ ở độ tuổi < 60
Do đặc điểm khớp háng là cán vặn, không can thiệp đến xương đùi nên sau phẫu thuật bệnh nhân ít đau và có cảm giác phục hồi nhanh hơn.Nếu bệnh nhân vận động sớm hơn quy định thì có thể bị lỏng khớp, khi đó phải thay lại khớp háng mới. Vì vậy,ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc tập vận động đã nêu ở trên phải chú ý các điểm sau:
– Vận động lại từ ngày thứ 2 (hoặc thứ 3) sau phẫu thuật theo chỉ định của bác sĩ phẫu thuật.
– Trong vòng 06 tuần đầu tiên sau phẫu thuật phải đi lại bằng nạng và hạn chế vận động tối đa.
– Trong vòng 03 tháng sau phẫu thuật bệnh nhân phải hạn chế vận động và vận động nhẹ nhàng.
– Khi di chuyển bệnh nhân phải dồn trọng lượng cơ thể lên cánh tay, nạng và bên chân không phẫu thuật.
– 03 tháng sau phẫu thuật có thể vận động trở lại bình thường nhưng cần trành các tư thế, động tác, thói quen hay vận động nặng gây ảnh hưởng đến vùng khớp háng mới phẫu thuật.
3. Các điều trị khác
Thuốc điều trị:
– Kháng sinh
– Giảm đau chống viêm (paracetamol, NSAID…)
– Chống phù nề
– Chống huyết khối tĩnh mạch
IV. THEO DÕI VÀ TÁI KHÁM
Tái khám sau 01 tháng, 2 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật.
Sau 1 năm khám lại.

13/12/2016

THÔNG BÁO MỜI CHÀO HÀNG CT MUA Ô TÔ


Trẻ bỗng dưng hai chân bị liệt: Cha mẹ cần cảnh giác nếu trẻ có biểu hiện giảm vận động chân

Theo TS Dũng, như trường hợp của cháu Y. là mới có biểu hiện nhẹ và có thể chữa trị để phục hồi.
Mới đây, gia đình bệnh nhân N.T.H.Y (2 tuổi ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) khiếu nại lên Bộ Y tế và cơ quan chức năng về việc bệnh nhân Y. được đưa đến bệnh viện đa khoa Yên Phong khám và điều trị bệnh viêm phổi nhưng sau đó vài ngày bỗng dưng bé gái 2 tuổi bị liệt chân phải.
Đó là bệnh viêm đa rễ dây thần kinh
Liên quan đến sự việc trên, PV đã có cuộc trao đổi với PGS TS Nguyễn Tiến Dũng - Nguyên trưởng khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai. TS Dũng cho biết trường hợp của bé Y. là viêm đa rễ dây thần kinh và có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng.
“Bệnh viêm đa rễ dây thần kinh đôi khi không có biểu hiện gì trước đó, em bé đang khỏe mạnh bỗng dưng hai chân yếu đi và cũng đã có những trường hợp em bé 2 ngày sau đã có biểu hiện bị liệt nên phải đi cấp cứu, liệt tới cơ chân và gây khó thở và có thể gây nguy hiểm tới tính mạng. Ở khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai chúng tôi đã từng chữa nhiều trường hợp bệnh nhân như trên, thậm chí còn bị nặng hơn”, TS Dũng phân tích.

PGS TS Nguyễn Tiến Dũng - Nguyên trưởng khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai
Theo TS Dũng, nguyên nhân của bệnh viêm đa rễ dây thần kinh là do 1 số virus gây ra nên việc chuẩn đoán về bệnh hơi khó. Do đặc điểm tổn thương đối xứng ở tất cả các dây thần kinh ngoại vi nên thường thấy liệt hai chi dưới hoặc tứ chi. Liệt thường khởi đầu ở hai chi dưới sau đến hai chi trên, đặc điểm là liệt mềm đối xứng.
Sau đó bệnh nhân sẽ liệt cơ thân (liệt cơ bụng, các cơ hô hấp (cơ gian sườn hoặc cơ hoành) gây tình trạng suy hô hấp) và liệt các dây thần kinh sọ não (dây VII (tỷ lệ 69%) thường liệt cả hai bên, dây IX, X (tỷ lệ tương đương với dây VII) gây liệt hầu họng kèm theo liệt dây thanh âm một hoặc cả hai bên. Các dây III, VI,VII, dây V vận động ít bị hơn).
Về phương pháp điều trị, TS Dũng cho hay: “Phương pháp trị bệnh thì có rất nhiều cách, phương pháp đơn giản rất cho đến thời điểm này là uống các vitamin và rèn luyện sức khỏe, nhưng phương pháp này thì hồi phục rất lâu có thể là hơn 1 năm vì là do virus, và có những trường hợp bé khác hồi phục rồi nhưng vẫn không đi lại được và phải ngồi xe lăn”.
TS Dũng nói tiếp: “Có những trường hợp chúng tôi đã phải truyền dịch, truyền huyết tương và những loại thuốc đắt tiền để chữa thì mới điều trị được, bệnh này sợ nhất là cấp tính ban đầu và nếu không kịp thời chữa trị có thể nguy hiểm tới tính mạng, còn nếu không bị liệt chúng ta có thể phục hồi chức năng”.

Có thể phục hồi
Bác sĩ Dũng cũng cho rằng, ở các bệnh viện tuyến huyện xác định nguyên nhân bệnh là rất khó, nhiều khi các loại bệnh do virus này gây nên không phải lúc nào cũng có biểu hiện thất thường. Nếu virus tấn công vào đường hô hấp thì biểu hiện của bệnh giống như viêm phổi, tấn công vào đường tiêu hóa thì em bé có thể bị tiêu chảy.
Cũng theo bác sĩ, tình trạng bị liệt ở bé vẫn có cơ hội để phục hồi nhưng vấn đề là thời gian không phải ngày một ngày hai mà phục hồi hẳn được thì phải điều trị lâu dài. Gia đình cũng không nên lo lắng quá hoặc nghe sự mách bảo của người khác cho cháu uống các loại thuốc tây, thuốc nam không đúng theo đơn chỉ định của bác sĩ.
“Vì là cháu bé mới có 2 tuổi nên thời gian phục hồi bệnh của cháu là còn dài lắm, cháu lớn lên chân tay cháu mới cứng cáp trở lại nên không nên lo lắng quá. Như trường hợp của cháu Y. là mới có biểu hiện nhẹ và có thể chữa trị để phục hồi. Virus gây nên bệnh viêm dây thần kinh đa rễ này hiện tại không thể xác minh được là virus gì vì có rất nhiều các loại virus có thể gây nên liệt ở chân. Năm nào bệnh viện Bạch mai khoa Nhi cũng có trường hợp như vậy”.
TS Dũng cũng nhấn mạnh khi thấy trẻ có biểu hiện giảm vận động chân, tay bố mẹ bé cần đưa đến bệnh viện và cấp cứu khịp thời, không để bệnh lan rộng khiến liệt các cơ hô hấp, gây nguy hiểm cho tính mạng của trẻ.
Trước đó, làm việc với PV, phía Sở Y Tế Bắc Ninh cho biết đã có kết luận về sự việc nêu trên. Theo kết luận, bệnh nhân Y. được điều trị bằng 2 loại kháng sinh (Biotaksym tiêm tĩnh mạch, Gentamycin tiêm bắp), chống viêm Solumedrol tiêm tĩnh mạch, hạ sốt Hapacol uống và Mitux uống.
Theo báo cáo, hồi 22h ngày 22/9, người nhà báo điều dưỡng trực về việc bệnh nhân Y. yếu chân phải. Điều dưỡng trực đã hướng dẫn người nhà chườm ấm, xoa bóp chân cho bệnh nhân và báo bác sĩ trực lên khám và xử lý. Sáng 23/9, bác sĩ khoa Nội – Nhi – Lây khám xác định, bệnh nhân đã ổn định, chân phải liệt có liệt mềm, phản xạ Babinski (-), trương lực cơ giảm, mạch mu chân phải bắt rõ, các xương, khớp chân phải không có dấu hiệu bất thường. Bệnh viện chẩn đoán, bệnh nhân Y. liệt mềm chân phải chưa rõ nguyên nhân/Viêm phế quản phổi.
Các bác sĩ của bệnh viện kê thuốc điều trị viêm phế quản phổi theo đơn hàng ngày và mời bác sĩ chuyên khoa Nhi khám và nhận định bệnh bệnh viêm phế quản phổi đã ổn định, liệt mềm chân phải không rõ nguyên nhân. Phía bệnh viện đa khoa Yên Phong đã giải thích tình trạng bệnh của bệnh nhân cho gia đình và hướng xử trí là chuyển viện lên bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh để điều trị tiếp bệnh liệt chân phải chưa rõ nguyên nhân.
Đến 11h30 ngày 23/9, bệnh nhân Y. được chuyển tới bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh. Tại đây, bệnh nhân Y. được theo dõi đến ngày 26/9 chỉ đỡ ho, không sốt.
Sau khi tình hình bệnh cháu Y. không thuyên giảm, bệnh viện tiếp tục chuyển bệnh nhân lên tuyến Nhi trung ương để điều trị.


Theo Trí Thức Trẻ

09/08/2016

THÔNG BÁO MỜI CHÀO HÀNG CẠNH TRANH

Bệnh viện Chỉnh hình và PHCN Quy Nhơn thông báo mời chào hàng mua sắm hai gói thầu sau:
1. Gói thầu Mua sắm tài sản:

2. Gói thầu Vật tư y tế:

14/04/2016

THÔNG BÁO:

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhận bàn giao công tác lao động, người có công và xã hội.


Bộ trưởng Đào Ngọc Dung và Nguyên Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền tại Lễ bàn giao công tác lao động, người có công và xã hội.

Sáng nay 14/4/2016, tại Trụ sở Bộ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức Lễ bàn giao công tác lao động, người có công và xã hội giữa nguyên Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền và tân Bộ trưởng Đào Ngọc Dung. Tới dự và chứng kiến có các đồng chí Phạm Quang Thao – Phó Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương; đồng chí Phạm Thị Bích Ngà - Ủy viên Ủy Ban kiểm tra Trung ương cùng đại diện Ban tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng; Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ. Về phía Bộ LĐ-TBXH có các đồng chí Thứ trưởng: Huỳnh Văn Tí, Phạm Minh Huân, Nguyễn Trọng Đàm, Đào Hồng Lan cùng Thủ trưởng các đơn vị, tổ chức thuộc Bộ. Xem tin tại: molisa.gov.vn

08/03/2016

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC NĂM 2016


Thông báo này cũng được đăng tại trang 14 Báo Lao động Xã hội - Số 29 ngày 8/3/2016.

18/01/2016

Phương hướng nhiệm vụ ngành Y tế giai đoạn 2016-2020


Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh trong giai đoạn 2016-2020, ngành Y tế đã xác định 9 nhiệm vụ trọng tâm chủ yếu như:
1)Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh theo lộ trình quy định tại Quyết định số 92/QĐ-TTg của Chính phủ.
2)Tập trung ưu tiên đầu tư để tạo bước chuyển toàn diện về tổ chức, nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị và cơ chế hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát triển đội ngũ bác sỹ và lồng ghép mô hình bác sỹ gia đình vào y tế tuyến cơ sở.
3) Đẩy mạnh các họat động y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu phù hợp với tình hình mới, đảm bảo mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ CSSK cơ bản có chất lượng, chủ động phòng chống các bệnh dịch xâm nhập từ bên ngoài, tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm, dập dịch kịp thời không để dịch bệnh lớn xảy ra, từng bước kiểm soát các yếu tố có hại đến sức khỏe, phòng chống các bệnh không lây nhiễm có hiệu quả.
4)Tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiến tiến trong công tác phòng bệnh và khám bệnh, phát hiện và điều trị kịp thời. Đổi mới công tác đào tạo cán bộ y tế, phát triển nguồn nhân lực về cả số lượng và chất lượng, tăng cường nhân lực y tế cho nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và một số chuyên khoa, đảm bảo cân đối trong phân bổ nhân lực y tế giữ các vùng, các tuyến giữa đào tạo và sử dụng nhân lực y tế.
5)Tiếp tục đổi mới toàn diện thái độ, phong cách phục vụ của cán bộ y tế, lấy người bệnh làm trung tâm và hướng tới sự hài lòng của người bệnh.Thực hiện tốt quy tắc ứng xử và nâng cao đạo đức nghề nghiệp, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế.
6) Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính y tế, hoàn thành việc chuyển ngân sách cấp cho các bệnh viện sang hỗ trợ người dân tham gian BHYT gắn với lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế, ưu tiên ngân sách cho y tế dự phòng, đổi mới phương thức phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Tiếp tục hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân sinh sống vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn tham gia BHYT theo hộ gia đình làm tăng độ bao phủ, thực hiện lộ trình BHYT toàn dân, giảm tỷ trọng chỉ tiêu tiền túi xuống dưới 40% tổng chi cho y tế vào năm 2010.
7) Đổi mới mô hình tổ chức, quản lý an toàn thực phẩm, dược, vắc-xin, sinh phẩm và trang thiết bị y tế. Phát triển công nghiệp dược, bảo đảm đủ thuốc, sử dụng có hiệu quả nguồn dược liệu trong nước cho công tác CSSK nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường đầu tư, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật để sản xuất thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị trong nước có chất lượng với giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân, quản lý, sử dụng thuốc và trang thiết bị hợp lý, an toàn và hiệu quả.
8)Tập trung đổi mới, củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương theo quy hoạch phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo hướng giảm đầu mối, phù hợp với hội nhập quốc tế nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực các tuyến.
9)Xây dựng cơ chế phối hợp và xác định trách nhiệm cụ thể trong công tác truyền thông y tế giữa ngành y tế và các bộ, ngành, chính quyền các cấp, các cơ quan báo chí. Nâng cao hiệu quả, tính chủ động của công tác truyền thông cung cấp thông tin, giáo dục sức khỏe để tạo được sự đồng thuận, ủng hộ và thu hút sự vào cuộc của các cấp ủy, đảng, chính quyền, các cơ quan truyền thông, dư luận và mỗi người dân. Nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho người dân trong việc chủ động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của bản thân và cộng đồng…

Đời Sống-Gia Đình (VietBao VN)

Vui Cười (VietBao VN)

SƯU TẦM ĐỊA CHỈ ĐIỆN THOẠI TƯ VẤN SỨC KHOẺ:

Tư vấn miễn phí:

* Điện thoại của đường dây tư vấn hỗ trợ trẻ em 18001567 hoặc chương trình Cửa sổ tình yêu (04) 3 8262625 để được tư vấn miễn phí.
* Phòng tư vấn sức khỏe sinh sản Bệnh viện Từ Dũ TPHCM với các chương trình tư vấn chăm sóc sức khỏe phụ nữ trước, trong và sau sinh miễn phí dành cho các ông bố, bà mẹ: điện thoại (08) 3 8395117 (số nội bộ 368).
* Phòng tư vấn sức khỏe cộng đồng tại Bình Định: (có tư vấn về phòng chống HIV/AIDS): Địa chỉ liên hệ với Trung tâm Tư vấn sức khỏe cộng đồng: 419 Trần Hưng Đạo, Qui Nhơn vào tất cả các ngày trong tuần (trừ chủ nhật). ĐT: (056): 3 811 466. Trung tâm tư vấn HIV/AIDS miễn phí tại: + Phòng tư vấn sức khỏe cộng đồng - Bệnh viện Lao: ĐT (056) 3 748 922; + Phòng khám số 3 (936- 938 Trần Hưng Đạo, Qui Nhơn: ĐT (056): 3 792 476.
* Phòng tư vấn sức khỏe miển phí tại Trung tâm Y tế Quận 1 TP.HCM với trên 20 bác sĩ thuộc các chuyên khoa tham gia tham vấn sức khỏe trực tiếp hoặc qua điện thoại số (08) 3 8206544.
* Chương trình VTV1 "Sức khoẻ là vàng", phát sóng vào 18h ngày Chủ nhật và phát lại vào 15h Thứ 4 tuần kế tiếp: Số điện thoại nóng của chương trình là 1900561225.
* Chương trình VTV2 “Sức khoẻ cho mọi người”, phát sóng vào 17h30 ngày Thứ 3 hàng tuần và phát lại vào 12h trưa hôm sau.
* Trung tâm tư vấn ung thư Can Hope (Singapore) tại Hà Nội: 04. 3 7472729 / 04. 3 7472730
* Khám và tư vấn miễn phí các bệnh lý thoái hóa và thoát vị đĩa đệm cột sống là chương trình do BV Nguyễn Tri Phương (468 Nguyễn Trãi, Q.5, TP.HCM) thực hiện vào lúc 13g30 thứ sáu hằng tuần.
Bệnh nhân có nhu cầu đăng ký qua số ĐT: 39234332 (xin số 895).


Khác:

* Bệnh nhân nam giới có nhu cầu khám và tư vấn các bệnh lý Nam khoa, vui lòng đăng ký tại BVĐH Y Dược TP.HCM, 215 Hồng Bàng, P11, Q5.:
1. Phòng khám Nam khoa. Điện thoại: (08) 3 8554269 (số 265) 2. Bộ phận chăm sóc khách hàng. Điện thoại: (08) 3 4051010- 3 4051212

*Ttư vấn “Bệnh loét dạ dày-tá tràng” liên hệ Phòng khám tiêu hóa - bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, xin vui lòng đăng ký qua số điện thoại: 08. 3 4051010, 3 4051212, bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, 215 Hồng Bàng, P.11, Q.5, bộ phận Chăm sóc khách hàng.

* Câu lạc bộ phòng chống Hen Hà nội, Hội Hen DU & MDLS Việt nam 04.3 9438933

* Các địa chỉ khác tại: http://shelove.biz/thong-tin-tu-van

* Tham khảo chữa rắn cắn: Địa chỉ liên hệ của ông Tần: Lê Văn Tần - xóm 6 xã Thanh Long, huyện Thanh Chương, Nghệ An. Điện thoại: 0972.901.089.

Người theo dõi